Quốc hội khóa I ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt, thể hiện sâu sắc bản lĩnh dân tộc và trí tuệ Hồ Chí Minh!
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được thành lập song đứng trước muôn vàn khó khăn, thách thức. Chính quyền cách mạng còn non trẻ, chưa có cơ quan quyền lực nhà nước do nhân dân bầu ra; nền kinh tế kiệt quệ, ngân khố trống rỗng, trên 90% dân số mù chữ, nạn đói khủng khiếp; thù trong, giặc ngoài cấu kết tìm mọi cách chống phá chính quyền mới hòng đặt ách nôi lệ lên nước ta một lần nữa. Trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, việc tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội nhằm khẳng định chủ quyền quốc gia, xây dựng nhà nước hợp pháp, hợp hiến, tập hợp toàn dân chống ngoại xâm là một quyết định đáp ứng nhu cầu bức thiết, sống còn của đất nước song cũng rất táo bạo và đầy bản lĩnh. Công tác chuẩn bị được tiến hành hết sức khẩn trương, quyết liệt.
Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên trong lịch sử dân tộc được tổ chức trên phạm vi cả nước đã diễn ra vào ngày 6/1/1946, với hơn 90% cử tri đi bầu cử trong không khí trang nghiêm, phấn khởi, tự hào. Ngày bầu cử trở đã thành ngày hội của toàn dân tộc. Nhiều nơi, các thế lực phản động tìm mọi cách phá hoại cuộc bầu cử song không thể ngăn chặn nổi người dân đi bỏ phiếu. Kết quả đã bầu được 333 đại biểu vào Quốc hội khóa I, gồm đủ các thành phần: công nhân, nông dân, trí thức, phụ nữ, tôn giáo, dân tộc thiểu số. Việc bầu ra cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện cho toàn dân, đã có ý nghĩa vô cùng to lớn trên các phương diện chính trị, pháp lý và xã hội.
Thắng lợi của cuộc bầu cử đã khẳng định rõ tính chính danh của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chính phủ chính thức được thành lập thay thế cho chính quyền cách mạng lâm thời để điều hành đất nước. Sự ra đời của Quốc hội khóa I còn là lời khẳng định với thế giới, Nhà nước Việt Nam là nhà nước hợp hiến, hợp pháp do nhân dân bầu ra. Nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam đủ tư cách, sức mạnh, bản lĩnh tự tin, tự cường, đoàn kết để làm chủ vận mệnh đất nước mình. Khát vọng xây dựng một nhà nước của dân, do dân, vì dân; ý chí độc lập dân tộc gắn liền với quyền làm chủ của nhân dân mãnh liệt như thác lũ, triều dâng không gì có thể ngăn cản nổi.
Cảm hứng về cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên, nhà thơ Xuân Diệu đã viết lên khúc tráng ca “Hội nghị non sông” bất diệt: “Hội dân tộc, hội của sông, của núi/ Hội rừng đồng và hội Việt Nam Xuân! Cả dân tộc đứng hiên ngang nhật nguyệt/….Tuyển cử hân hoan! Tuyển cử linh thiêng!/ Khí sông núi bừng bừng lên Bắc Đẩu/…Lá phiếu ơi, lá phiếu thanh tân/ Miếng giấy nhỏ có gan và có máu/ Có tháng ngày! sắt lửa! với vàng son…”.
Nói về Quốc hội khóa I, không thể không nói tới Hiến pháp 1946. Trong bối cảnh đất nước chưa thống nhất hoàn toàn, chính quyền nhân dân còn non trẻ, chưa được quốc tế công nhận, nguy cơ chiến tranh với thực dân Pháp ngày càng lộ rõ, việc ban hành Hiến pháp là vô cùng quan trọng. Hiến pháp sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động của Nhà nước mới và cuộc đấu tranh dành độc lập, tự do của dân tộc. Trên tinh thần ấy Quốc hội khóa I đã kịp thời xây dựng, thông qua và ban hành bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam mới.
Dù ra đời trong hoàn cảnh cấp bách, chiến tranh cận kề song Hiếp pháp 1946 đã thế hiện sâu sắc tính dân chủ, tiến bộ và hướng tới lâu dài. Sự khẳng định rõ ràng:“Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam”; quyền con người, quyền công dân của người dân được tôn trọng và bảo đảm đã đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Các quy định trong Hiến pháp: Nhân dân thực hiện quyền lực thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Mọi cơ quan Nhà nước phải hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật. Pháp luật giữ vị trí tối thượng, mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều phải tuân theo pháp luật, đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt địa vị, chức vụ hay hoàn cảnh. Đây là những tư tưởng rất hiện đại vào thời điểm 1946, đã đặt nền móng vững chắc cho Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay.
Cuộc bầu cử Quốc hội khóa I và ban hành Hiến pháp 1946 còn thể hiện sâu sắc vai trò đặc biệt quan trọng, tư duy, trí tuệ và bản lĩnh của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Ngay sau Tuyên bố độc lập ngày 2/9/1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã xác định rõ ràng: Độc lập phải đi liền với dân chủ, chính quyền phải do nhân dân bầu ra. Ngày 8/9/1945, Người ký Sắc lệnh số 14-SL, quyết định tổ chức Tổng tuyển cử trong cả nước bầu Quốc hội khóa I để kịp thời hợp pháp hóa quyền lực cách mạng nhằm đập tan mọi âm mưu đen tối của thù trong, giặc ngoài. Sắc lệnh quy định rõ việc tổ chức Tổng tuyển cử theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu. Công dân từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt nam nữ, giai cấp, tôn giáo, dân tộc, giàu nghèo, đảng phái đều có quyền bầu cử bình đẳng – trực tiếp – bỏ phiếu kín. Điều này thể hiện tư duy dân chủ của lãnh tụ Hồ Chí Minh xuất hiện rất sớm, rất hiện đại và cực kỳ tiến bộ. Người rất tin vào dân, dám “trao quyền” cho dân trong bối cảnh đất nước vừa thoát khỏi chế độ phong kiến – thuộc địa, phần lớn người dân bị mù chữ, nguy cơ chiến tranh đang cận kề.
Lãnh tụ Hồ Chí Minh cũng không có tư tưởng độc quyền chính trị. Người chủ trương mở rộng thành phần ứng cử, khuyến khích các đảng phái, nhân sĩ ngoài Việt Minh tham gia Quốc hội nhằm tạo ra mặt trận đoàn kết toàn dân, cô lập các thế lực phản động và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Không chỉ đề ra chủ trương, đường lối, lãnh tụ Hồ Chí Minh còn trực tiếp chỉ đạo và làm gương. Người nói chuyện, giải thích cho nhân dân hiểu rõ ý nghĩa của bầu cử, viết nhiều bài báo, thư kêu gọi cử tri đi bầu cử. Người tự mình ứng cử và đi bỏ phiếu như một công dân bình thường. Hình ảnh vị Chủ tịch nước xếp hàng bỏ phiếu thể hiện rõ tính chất chính quyền là của dân, người đứng đầu chính quyền chỉ là người được dân ủy quyền.
Trước tình thế nhiều thách thức, Người thể hiện rõ phong cách lãnh đạo "Nhất bất biến, ứng vạn biến”, vừa kiên định vừa mềm dẻo. Kiên quyết giữ vững độc lập dân tộc, quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước hợp hiến, hợp pháp do dân bầu ra. Song trước tình hình chính trị rất phức tạp lúc bấy giờ, Người đã thỏa thuận với một số đảng phái mở rộng thành phần ứng cử; chấp nhận dành một số ghế trong Quốc hội cho các lực lượng khác không qua bầu cử nhằm giữ ổn định chính trị. Người cũng linh hoạt điều chỉnh thời gian, hình thức tổ chức bầu cử ở những nơi có chiến sự, giao thông bị chia cắt. Tất cả sự “ứng biến” ấy đều nhằm mục tiêu bảo vệ cái “bất biến” là độc lập và chính quyền của nhân dân. Có thể nói, tư duy, trí tuệ, bản lĩnh của lãnh tụ Hồ Chí Minh đã có tác động rất lớn đến thắng lợi của việc bầu Quốc hội khóa I và ban hành Hiến pháp 1946, thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược, khát vọng độc lập, niềm tin vào nhân dân, nghệ thuật đoàn kết và phong cách nêu gương của Người.
Quốc hội khóa XVI và sự kỳ vọng, niềm tin của nhân dân cả nước!
Từ Quốc hội khóa I, năm 1946, đến nay Quốc hội Việt Nam đã trải qua 15 khóa với thời gian tròn 80 năm. Chuẩn bị cho sự ra đời của Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026- 2031, thời gian qua công tác hiệp thương giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp dưới sự chủ trì của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được tiến hành qua 3 vòng chặt chẽ, dân chủ, đúng quy định của pháp luật. Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Chủ tịch Hội đồng bầu cử Quốc gia đã ký ban hành Nghị quyết số 151/NQ-HĐBCQG, công bố danh sách chính thức 864 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI theo từng đơn vị bầu cử trên phạm vi cả nước, đảm bảo các tiêu chí về năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức và tỉ lệ đại biểu cơ quan trung ương, địa phương, phụ nữ, dân tộc thiểu số, người ngoài Đảng… theo quy định pháp luật hiện hành. Có thể nói, Quốc hội khóa XVI cũng ra đời trong hoàn cảnh rất đặc biệt. Đó là đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới, “kỷ nguyên vươn mình” phát triển.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định trong giai đoạn tới cần tiếp tục đẩy mạnh đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế sâu rộng; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thực hiện chuyển đổi số quốc gia, cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, tiêu cực; nâng cao đời sống nhân dân; bảo đảm quốc phòng – an ninh trong tình hình mới... Trước bối cảnh tình hình thế giới, khu vực xuất hiện nhiều biến động phức tạp, khó lường và yểu cầu phát triển đất nước, đòi hỏi Quốc hội khóa XVI phải đổi mới mạnh mẽ cả về tổ chức và hoạt động, nâng cao chất lượng đại biểu và hiệu lực, hiệu quả hoạt động, quyết đáp kịp thời các vấn đề quan trọng của đất nước với tầm nhìn chiến lược.
Ngày 15/3/2026 là ngày cử tri cả nước đi bầu cử Quốc hội khoá XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 để bầu ra 500 đại biểu Quốc hội khóa XVI và các đại biểu HĐND các cấp. Khi cầm lá phiếu lên tay, cử tri suy nghĩ, cân nhắc bầu ai là đặt trọn sự kỳ vọng và niềm tin vào người mình đã chọn. Kỳ vọng và niềm tin người mình bầu sẽ có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Nhân dân và Hiến pháp, luôn đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết. Kỳ vọng và niềm tin người mình bầu luôn trong sạch về phẩm chất đạo đức, lối sống, nói đi đôi với làm, gần dân, hiểu dân, trọng dân, vì dân, lắng nghe, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của dân, phản ánh trung thực và kiến nghị cách giải quyết tại nghị trường. Kỳ vọng và niềm tin người mình bầu có đủ năng lực và trình độ để thực hiện tốt chức năng lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.
Chỉ khi sự kỳ vọng và niềm tin của nhân dân được đáp ứng thì người trúng cử mới xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân; mới khơi dậy được khát vọng phát triển phồn vinh, hạnh phúc; mới phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc vào kỷ nguyên mới, “kỷ nguyên vươn mình” đưa đất nước phát triển giàu mạnh, hùng cường, nhân dân ấm no, hạnh phúc.