Thực hành tiết kiệm là một trong những giá trị đạo đức truyền thống tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của một quốc gia nông nghiệp, thường xuyên phải đối mặt với thiên tai, chiến tranh và thiếu thốn. Trong lịch sử, từ triết lý “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn” đến lối sống “liệu cơm gắp mắm”, tinh thần tiết kiệm đã trở thành thói quen, nếp nghĩ và phương châm ứng xử của nhiều thế hệ người Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư duy nhạy bén và tầm nhìn chiến lược, đã tiếp thu, kế thừa và phát triển truyền thống quý báu ấy; đồng thời, bổ sung những yếu tố mới từ tinh hoa văn hóa nhân loại và kinh nghiệm thực tiễn của phong trào cách mạng thế giới. Từ môi trường hoạt động quốc tế phong phú và trải nghiệm trực tiếp trong phong trào công nhân, phong trào giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm hình thành quan niệm về thực hành tiết kiệm vừa mang tính phổ quát, vừa gắn chặt với yêu cầu của cách mạng Việt Nam.
Thực hành tiết kiệm là giá trị nền tảng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, bắt nguồn từ yêu cầu khách quan phải quản lý và sử dụng hợp lý, hiệu quả mọi nguồn lực vật chất, tinh thần cho sự nghiệp cách mạng của đất nước. Trong kỷ nguyên mới của dân tộc, việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm không chỉ là giải pháp hữu hiệu để phòng, chống tham ô, lãng phí, mà còn là điều kiện quyết định để tập trung nguồn lực đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển bền vững đất nước.
Điểm xuất phát quan trọng để Chủ tịch Hồ Chí Minh hình thành tư tưởng về thực hành tiết kiệm là nhận thức sâu sắc về mối quan hệ giữa tiết kiệm và độc lập, tự chủ của dân tộc. Với Người, một đất nước muốn thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và giữ vững chủ quyền thì trước hết phải biết quý trọng, bảo vệ và sử dụng hợp lý mọi nguồn lực hiện có. Bên cạnh đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm còn bắt nguồn từ chính quan niệm đạo đức cách mạng mà Người kiên trì vun đắp. Trong hệ thống đạo đức “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, thực hành tiết kiệm luôn được đặt ở vị trí trung tâm, là cầu nối giữa “cần” và “liêm”, bảo đảm cho mỗi cá nhân giữ gìn phẩm chất trong sáng, tránh xa chủ nghĩa cá nhân, lối sống xa hoa, hưởng thụ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm được thể hiện trên những nội dung cơ bản sau:
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ phải đối mặt với hoàn cảnh đặc biệt khắc nghiệt: nạn đói cướp đi sinh mạng hơn 2 triệu người, hơn 90% dân số mù chữ, nguy cơ xâm lược từ bên ngoài luôn thường trực, trong khi ngân khố quốc gia gần như trống rỗng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thắn chỉ rõ thực trạng ấy: “trước khi rút chạy, thực dân Pháp đã để lại cho chúng tôi một di sản thảm hại: nạn đói, nghèo khổ, đổ nát điêu tàn, một số lượng lớn người thất nghiệp...”(1), hay “Trong 80 năm, nước ta bị đế quốc Pháp rồi đến đế quốc Nhật vơ vét hết, vì vậy mà kinh tế của ta nghèo nàn, lạc hậu”(2). Trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, việc khôi phục và xây dựng một nền kinh tế độc lập không chỉ là yêu cầu phát triển, mà còn là vấn đề sống còn đối với vận mệnh quốc gia - dân tộc.
Từ nhận thức sâu sắc về mối quan hệ hữu cơ giữa độc lập kinh tế và độc lập chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nay chúng ta cần phải có một nền kinh tế khá, để kháng chiến và kiến quốc”(3). Nhưng để kiến thiết kinh tế cần phải có nguồn vốn - thứ mà đất nước đang hoàn toàn thiếu thốn. Người chỉ rõ, ở các nước tư bản thường tạo nguồn vốn bằng cách vay nợ, cướp bóc thuộc địa hoặc bóc lột công nhân, nông dân, song “những cách đó chúng ta đều không thể làm được”(4). Việt Nam không thể đi theo con đường bất công, phi nhân đạo ấy, vì điều đó trái với bản chất cách mạng và mục tiêu nhân văn của dân tộc. Từ đó, Người chỉ ra con đường tất yếu: “Chúng ta chỉ có cách là một mặt tăng gia sản xuất, một mặt tiết kiệm để tích trữ thêm vốn cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của ta”(5). Thực hành tiết kiệm trong tư tưởng Hồ Chí Minh vì thế đã vượt ra khỏi phạm vi đạo đức cá nhân, trở thành chiến lược quốc gia, nhằm chủ động tạo dựng nguồn lực từ bên trong cho một nền kinh tế tự chủ, bền vững.
Điểm đặc sắc trong tư tưởng của Người là không giới hạn thực hành tiết kiệm ở nghĩa “thắt lưng buộc bụng”, mà coi đó là nền tảng để mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nếu ta khéo tiết kiệm sức người, tiền của và thời giờ, thì với sức lao động, tiền tài của nước ta hiện nay, ta có thể tăng gia sản xuất gấp bội… Đó là một sự thực chắc chắn, chứ không phải lý luận cao xa”(6). Ngay trong những năm kháng chiến gian khổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn kiên định: “Nước ta đang kháng chiến, điều kiện khó khăn hơn. Nhưng chúng ta quyết tâm tăng gia và tiết kiệm, thì nhất định tăng gia được và tiết kiệm được”(7).
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, bản chất của thực hành tiết kiệm trước hết nằm ở ý thức và thái độ sử dụng hợp lý mọi nguồn lực, nhằm phục vụ lợi ích chung. Ngày 27-1-1952, trong bài nói chuyện nhân dịp Tết Nhâm Thìn, Người đặt ra hàng loạt câu hỏi: “Tiết kiệm là gì? Vì sao phải tiết kiệm? Tiết kiệm những gì? Ai cần phải tiết kiệm?”(. Đồng thời, Người đã giải thích cụ thể bản chất của tiết kiệm là “không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi”(9). Cùng với đó, Người còn chỉ rõ việc thực hành tiết kiệm “không phải là bủn xỉn”(10), nó hoàn toàn đối lập với “hà tiện”, cắt giảm mọi khoản chi tiêu, kể cả những khoản cần thiết cho lợi ích chung.
Thực hành tiết kiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là hạn chế phát triển, mà để bảo đảm chi tiêu và sử dụng nguồn lực một cách hợp lý, đúng mục đích. Tức là, “khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng”(11). Đây chính là biểu hiện của lối sống văn minh, hiện đại, giàu tính nhân văn, có sự kết hợp hài hòa giữa tiết kiệm và đầu tư cho những việc có giá trị lâu dài, hướng tới hiệu quả thiết thực cho cộng đồng.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nội dung thực hành tiết kiệm phải toàn diện cả về sức lao động, thời gian, đến lời nói. Trong đó, thực hành tiết kiệm sức lao động là yêu cầu hàng đầu, bởi sức lao động chính là “vốn quý nhất” của quốc gia. Người nhấn mạnh: “Phải biết quý trọng sức người là vốn quý nhất của ta. Chúng ta cần hết lòng chăm sóc sức khỏe và sử dụng thật hợp lý sức lao động của nhân dân ta”(12). Người nêu quan điểm: “Việc gì trước kia phải dùng 10 người, nay ta phải tổ chức sắp xếp cho khéo, phải nâng cao năng suất của mỗi người, nhờ vậy mà chỉ dùng 5 người cũng làm được”(13).
Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng thực hành tiết kiệm thời gian, bởi thời gian là “tài sản vô giá”, một khi đã trôi qua thì không thể lấy lại. Người phê phán gay gắt: “Ai đưa vàng bạc vứt đi, là người điên rồ. Thì ai đưa thời giờ vứt đi, là người ngu dại”(14). Tiết kiệm thời gian đồng nghĩa với việc tổ chức công việc khoa học, đúng giờ, hiệu quả, đồng thời tôn trọng thời gian của người khác. Người căn dặn: “Từ Chủ tịch Chính phủ cho đến người chạy giấy, người quét dọn trong một cơ quan nhỏ, đều là những người ăn lương của dân… Làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ, về sớm… Ai lười biếng tức là lừa gạt dân”(15). Hơn thế, tiết kiệm thời gian phải gắn với cải tiến tổ chức và đổi mới phương pháp làm việc: “Việc gì trước kia phải làm 2 ngày, nay vì tổ chức sắp xếp khéo, năng suất cao, ta có thể làm xong trong 1 ngày”(16).
Cùng với thực hành tiết kiệm sức lao động và thời gian, việc thực hành tiết kiệm lời nói cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Bởi theo Người, nói thì phải đi đôi với làm, đối với mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thực hành “Nói ít, bắt đầu bằng hành động(17). Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn căn dặn lời nói phải đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức, tránh phô trương, hình thức. Người cảnh báo tình trạng hội mà không nghị, nghị mà không quyết, quyết rồi mà không làm, xem đây như một dạng lãng phí lời nói nghiêm trọng, kéo theo đó là sự lãng phí thời gian nghe của quần chúng nhân dân.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiết kiệm là nghĩa vụ và trách nhiệm chung của toàn xã hội, không trừ bất kỳ ai, từ cán bộ lãnh đạo cao nhất đến từng người dân, từ cơ quan hành chính đến đơn vị sản xuất, từ chiến sĩ ngoài mặt trận đến công nhân, nông dân trong đời sống thường ngày. Người khẳng định dứt khoát: “Tất cả mọi người đều phải tiết kiệm. Trước nhất là các cơ quan, các bộ đội, các xí nghiệp”(18). Trong đó, Người đặc biệt coi trọng tính nêu gương của cán bộ, đảng viên. Người chỉ rõ: “Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã”(19). Điều này không chỉ là nguyên tắc đạo đức cách mạng, mà còn là phương thức thuyết phục hiệu quả nhất, bởi tấm gương của người lãnh đạo có sức lan tỏa mạnh mẽ, khơi dậy ý thức tự giác thực hành tiết kiệm trong toàn dân.
Việc tiết kiệm cần được triển khai rộng khắp, “Cơ quan nào cũng cần và cũng có thể tiết kiệm”(20), nhằm giảm chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động phục vụ nhân dân. Cùng với đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đặc biệt quan tâm tới bảo vệ tài sản công, chỉ rõ đây là trách nhiệm trực tiếp của mỗi cán bộ, đảng viên và các cơ quan, đơn vị. Người căn dặn phải “vít kín các lỗ thủng, các kẽ hở, không để của cải dành dụm của chúng ta bị hao hụt, phân tán”(21).